Thị trường

Mở rộng sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp

Nguyễn Hùng - 15/08/2026, 16:00

Hơn 420.000ha lúa đã áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững, cơ sở nhân rộng sản xuất chất lượng cao, phát thải thấp.

Hơn 420.000ha áp dụng quy trình canh tác bền vững

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đến tháng 8/2026, hơn 420.000ha đã áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững, đạt gần 90% mục tiêu của giai đoạn hiện tại. Hơn 175.000 hộ đăng ký tham gia. Tuy nhiên, diện tích đáp ứng đầy đủ các tiêu chí mới đạt gần 68.000ha, tương đương khoảng 15%.

Mở rộng sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp - Ảnh 1.

Đến tháng 8/2026, hơn 420.000ha đã áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững.

Kết quả từ các mô hình cho thấy, so với canh tác thông thường, lượng giống giảm 30 - 50%, phân bón hóa học giảm 20-30%, thuốc bảo vệ thực vật giảm 2 - 3 lần mỗi vụ và nước tưới giảm 20 - 40%. Năng suất tăng khoảng 5 - 12%, lợi nhuận tăng 1,5 - 9,3 triệu đồng/ha/vụ. Mức giảm phát thải bước đầu đạt bình quân 3 - 4 tấn CO2e/ha/vụ.

Theo bà Đinh Thị Kim Dung, Chánh Văn phòng về Quan hệ đối tác và điều phối dự án, Viện Nghiên cứu Lúa gạo quốc tế (IRRI), tại Cần Thơ, Đồng Tháp và An Giang, một số doanh nghiệp đã đề nghị phối hợp với hợp tác xã để mở rộng vùng nguyên liệu lên quy mô 300 - 500ha và cần hỗ trợ kỹ thuật cho quá trình này.

IRRI dự kiến phối hợp với các đơn vị của Bộ và 6 địa phương nâng cao năng lực cho khoảng 250 xã trong giai đoạn 2026 - 2027, đồng thời hỗ trợ hợp tác xã chuyển từ mô hình thí điểm sang vùng nguyên liệu tập trung.

Khó đồng nhất quy trình giữa các vùng

Bên cạnh kết quả đạt được, các tổ chức quốc tế cũng chỉ ra những vấn đề cần giải quyết khi chuyển từ mô hình sang sản xuất quy mô lớn.

Theo IRRI, phản hồi từ các địa phương cho thấy nhiều nơi còn thiếu máy gieo sạ, thiết bị thu gom và xử lý rơm; một số diện tích chưa phù hợp cho cơ giới hóa chính xác. Điều kiện ngập nước, mưa lớn, triều cường cũng khiến một số yêu cầu kỹ thuật khó áp dụng đồng nhất giữa các vùng.

Đối với tín chỉ carbon, IRRI cho rằng đường cơ sở trong hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định giảm phát thải (MRV) cần tính đến điều kiện của từng hợp tác xã và yếu tố thời tiết để tránh xác định sai lượng phát thải được cắt giảm.

Một vấn đề khác được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) đề cập là khả năng kết nối dữ liệu. Theo ông Vinod Ahuja, Trưởng Đại diện FAO tại Việt Nam, hiện có nhiều đối tác cùng thu thập dữ liệu về phát thải, sản xuất lúa và dinh dưỡng đất. Vì vậy, cần cách tiếp cận hài hòa để kết nối các dòng dữ liệu, thay vì tồn tại trong những hệ thống khác nhau.

FAO cũng đang phối hợp với Việt Nam xây dựng đề xuất huy động hơn 200 triệu USD từ Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) trong 5 năm, hỗ trợ chuyển đổi sang sản xuất lúa giảm phát thải và thích ứng biến đổi khí hậu. Đề xuất hướng tới giảm khoảng 500.000 tấn CO2 tương đương.

Ở góc độ lợi ích của người sản xuất, bà Roxanne Abdulali, Trưởng bộ phận Nông nghiệp - Thực phẩm, SNV Việt Nam cho rằng cần quan tâm tới phần giá trị cuối cùng nông dân nhận được khi tham gia các chương trình.

SNV đề nghị hệ thống MRV trong giai đoạn tới được thiết kế theo nhiều cấp độ. Trường hợp hướng tới chứng nhận cho thị trường quốc tế, dữ liệu cần đủ chi tiết để có thể truy xuất tới cấp hộ.

Trong khi đó, đại diện Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam khuyến nghị thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong sản xuất giảm phát thải...

Xây dựng gói kỹ thuật theo từng vùng

Trước các đề xuất, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, cách tiếp cận Đề án 1 triệu ha trong giai đoạn tới sẽ theo hướng mở rộng và linh hoạt hơn.

Theo Thứ trưởng, Đề án không thay đổi các mục tiêu đã đề ra nhưng không giới hạn ở diện tích đã đăng ký, từng bước tạo nền tảng để mở rộng phương thức sản xuất chất lượng cao, giảm phát thải ra toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng như các địa phương trên cả nước. Cách tiếp cận mới sẽ không còn đặt trọng tâm vào xác định ai tham gia Đề án mà hướng tới áp dụng phương thức sản xuất mới trên diện rộng.

Tuy nhiên, việc mở rộng phải phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp lưu ý không thể lấy quy trình đã áp dụng cho hơn 420.000ha để áp nguyên cho 600.000ha tiếp theo, cũng như không thể áp dụng giống nhau giữa vùng ven biển Cà Mau và An Giang. Bộ Nông nghiệp và Môi trường định hướng xây dựng các gói kỹ thuật theo vùng, tiểu vùng, từ giống, canh tác đến chế biến và tiêu thụ.

Cùng với đó, Thứ trưởng yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối thông tin về sản xuất, tín chỉ carbon, mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc; hạn chế tình trạng mỗi dự án xây dựng một hệ thống riêng.

Đối với nguồn lực quốc tế, Bộ định hướng chuyển từ cách mỗi tổ chức thực hiện một phần việc sang phối hợp theo thế mạnh, tập trung vào những vấn đề chung như gói kỹ thuật, dữ liệu, chuỗi giá trị, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh và thị trường.

Về nguồn vốn, Trung ương sẽ sử dụng nguồn lực trong nước cho những nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của Bộ; địa phương có thể huy động ngân sách hoặc các nguồn vốn phù hợp khác. Với hạ tầng quy mô nhỏ phục vụ vùng sản xuất, định hướng là ưu tiên vốn đầu tư công, hạn chế sử dụng vốn vay.

Đáng chú ý, theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nguồn vốn hay tín chỉ carbon không phải đích đến cuối cùng. Việt Nam vẫn tiếp tục theo đuổi tín chỉ carbon, nhưng trước hết cần sử dụng kết quả giảm phát thải để chứng minh phương thức sản xuất có trách nhiệm. Nếu bán được tín chỉ, tạo thêm thu nhập cho nông dân thì đây là giá trị bổ sung.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng, giá trị trực tiếp hơn phải đến từ hạt gạo. Theo đó, cần xây dựng thương hiệu "gạo Việt Nam xanh", đồng thời kết nối sản xuất với doanh nghiệp, tài chính và thị trường.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất với các đối tác quốc tế xây dựng cơ chế điều phối chung, hướng các dự án vào từng đối tượng, địa bàn phù hợp, phục vụ mục tiêu phát triển ngành lúa gạo chất lượng cao, giảm phát thải.

Theo Quyết định 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2030 hình thành 1 triệu ha vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tổ chức lại hệ thống sản xuất theo chuỗi giá trị tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Đến năm 2030, lượng giống gieo sạ giảm xuống dưới 70kg/ha; giảm 30% lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật hóa học; giảm 20% lượng nước tưới so với canh tác truyền thống; 100% diện tích áp dụng ít nhất một quy trình canh tác bền vững.

Đề án đặt mục tiêu giảm trên 10% lượng phát thải khí nhà kính so với canh tác lúa truyền thống; 100% rơm được thu gom khỏi đồng ruộng và chế biến tái sử dụng. Giá trị gia tăng trong chuỗi lúa gạo tăng 40%, tỷ suất lợi nhuận của người trồng lúa đạt trên 50%.